
Johnson sinh ra tại thị trấn Stonewall, bang Texas. Trước khi bước vào chính trường, ông từng làm giáo viên và trợ lý quốc hội. Năm 1937, ông thắng cử và trở thành Hạ nghị sĩ Hoa Kỳ. Năm 1948, ông giành chiến thắng trong cuộc bầu cử sơ bộ đầy tranh cãi để trở thành ứng viên Thượng viện, sau đó tiếp tục thắng trong cuộc tổng tuyển cử. Ông nhanh chóng thăng tiến tại Thượng viện. Năm 1951, ông trở thành Phó lãnh đạo phe đa số. Năm 1953, ông giữ chức Lãnh đạo phe Dân chủ. Một năm sau, ông trở thành Lãnh đạo phe đa số tại Thượng viện.
Trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1960, Johnson thất bại trước John F. Kennedy trong cuộc đua giành đề cử của Đảng Dân chủ. Tuy nhiên, Kennedy bất ngờ chọn ông làm ứng viên Phó Tổng thống. Liên danh Kennedy–Johnson giành chiến thắng và bước vào Nhà Trắng. Sau khi Kennedy bị ám sát năm 1963, Johnson trở thành Tổng thống. Năm 1964, ông tái đắc cử với tỉ lệ phiếu cao kỷ lục trong lịch sử Đảng Dân chủ.
Johnson theo đuổi chương trình “Xã hội Vĩ đại” với mục tiêu cải thiện đời sống cho người dân Mỹ. Ông mở rộng quyền dân sự, hỗ trợ giáo dục, phát triển y tế, truyền thông công cộng và các dịch vụ xã hội. Ông cũng khởi xướng cuộc “chiến tranh chống đói nghèo” nhằm hỗ trợ người thu nhập thấp. Năm 1965, Johnson ký Đạo luật sửa đổi An sinh Xã hội và thành lập hai chương trình y tế lớn là Medicare và Medicaid. Cùng năm, ông ban hành Đạo luật Giáo dục Đại học để hỗ trợ vay vốn sinh viên, và Đạo luật Nhập cư và Quốc tịch, đặt nền móng cho chính sách nhập cư hiện đại của Hoa Kỳ. Ông cũng đưa chương trình không gian Apollo trở thành ưu tiên quốc gia.
Trong lĩnh vực dân quyền, Johnson phải đối mặt với nhiều sự phản đối từ các chính trị gia da trắng miền Nam. Tuy vậy, ông vẫn quyết tâm thúc đẩy ba đạo luật quan trọng: Đạo luật Dân quyền năm 1964, Đạo luật Quyền bầu cử năm 1965 và Đạo luật Dân quyền năm 1968. Những thành tựu này khiến nhiệm kỳ của ông được xem là đỉnh cao của chủ nghĩa tự do hiện đại trong thế kỷ 20.
Về đối ngoại, Johnson tập trung vào việc ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản. Ông mở rộng vai trò của Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Ban đầu, ông nhận được sự ủng hộ rộng rãi từ công chúng. Nhưng về sau, niềm tin vào ông giảm sút do chiến tranh kéo dài và tình trạng bất ổn trong nước. Các cuộc bạo động sắc tộc, tình trạng tội phạm gia tăng và sự hoài nghi về chính sách của chính phủ khiến người dân ngày càng thất vọng.
Dù ban đầu có ý định tái tranh cử vào năm 1968, Johnson đã quyết định rút lui sau khi thất bại tại vòng bầu cử sơ bộ ở bang New Hampshire. Sau khi rời chức, ông về sống tại trang trại ở Texas và ít xuất hiện trước công chúng cho đến khi qua đời năm 1973.
Giới học giả đánh giá di sản của Johnson theo nhiều cách khác nhau. Nhiều người ghi nhận ông là tổng thống có thành tựu lớn trong chính sách đối nội, đặc biệt là trong các lĩnh vực quyền dân sự, y tế, phúc lợi và giáo dục. Tuy nhiên, ông cũng vấp phải chỉ trích nặng nề vì đã đưa Hoa Kỳ ngày càng sa lầy vào chiến tranh Việt Nam.
Hôn nhân và con cái
Ngày 17 tháng 11 năm 1934, Lyndon B. Johnson kết hôn với Claudia Alta "Lady Bird" Taylor, một phụ nữ đến từ Karnack, Texas. Họ gặp nhau không lâu sau khi Johnson theo học một học kỳ tại Trường Luật Đại học Georgetown ở Washington, D.C. Ngay trong buổi hẹn đầu tiên, ông đã cầu hôn Lady Bird. Tuy nhiên, phải sau nhiều lần gặp gỡ, cô mới chấp nhận lời đề nghị của ông.
Lễ cưới diễn ra tại Nhà thờ Giám nhiệm St. Mark ở thành phố San Antonio, do mục sư Arthur R. McKinstry chủ trì. Họ có hai người con gái: Lynda Bird, sinh năm 1944, và Luci Baines, sinh năm 1947. Johnson có thói quen đặt tên mọi thứ theo ba chữ cái viết tắt LBJ — từ tên con cái, tên chú chó cưng “Little Beagle Johnson”, cho đến tên trang trại gia đình ông ở vùng đồi Texas, gọi là LBJ Ranch. Thậm chí, ông còn in ba chữ này lên măng-sét áo, gạt tàn thuốc và cả trang phục cá nhân.
Dù đã kết hôn, Johnson vẫn có nhiều mối quan hệ ngoài hôn nhân. Trong số đó, Alice Marsh — một phụ nữ thuộc giới thượng lưu — là người được xem là có mối liên hệ tình cảm sâu sắc nhất với ông ngoài cuộc sống gia đình.
Sức khỏe
Ngày 2 tháng 7 năm 1955, ở tuổi 46, Lyndon B. Johnson trải qua một cơn đau tim nghiêm trọng. Khi đó, ông hút đến 60 điếu thuốc mỗi ngày. Sau cú sốc suýt mất mạng, ông chủ động từ bỏ thuốc lá. Năm tháng sau, các bác sĩ theo dõi sức khỏe đã xác nhận rằng ông hồi phục rất tốt.
Khi Tổng thống Kennedy bị ám sát, Johnson có dấu hiệu bị thêm một cơn đau tim. Dù vậy, ông chỉ công bố với công chúng rằng mình bị đau thắt ngực.

Ngày 8 tháng 11 năm 1965, Johnson đến Bệnh viện Hải quân Bethesda để phẫu thuật cắt túi mật và lấy sỏi thận. Các bác sĩ thực hiện ca mổ thành công và đánh giá rằng ông phục hồi đúng như kỳ vọng. Ngày hôm sau, Johnson trở lại làm việc. Vài ngày sau đó, ông chủ động gặp gỡ báo chí để trấn an người dân về tình trạng sức khỏe. Trong thời gian ông phẫu thuật, Nhà Trắng không chuyển giao quyền lực cho Phó Tổng thống Hubert Humphrey vì Johnson nhanh chóng lấy lại khả năng điều hành.
Tháng 3 năm 1970, Johnson lên cơn đau thắt ngực và phải nhập viện tại Bệnh viện Quân đội Brooke ở San Antonio. Sau khi rời Nhà Trắng, ông tăng hơn 11 kg, khiến cân nặng lên đến khoảng 107 kg. Các bác sĩ yêu cầu ông giảm cân để kiểm soát tình trạng tim mạch. Trong mùa hè năm đó, khi các cơn đau ngực kéo dài trở lại, Johnson áp dụng chế độ ăn kiêng khắt khe, chỉ uống nước trong gần một tháng và tự giảm hơn 6 kg. Tuy nhiên, đến gần Giáng sinh năm 1971, ông lại bắt đầu hút thuốc trở lại, kết thúc 16 năm cai thuốc kể từ cơn đau tim năm 1955.
Tháng 4 năm 1972, Johnson đến thăm con gái Lynda tại bang Virginia. Tại đây, ông lên cơn đau tim dữ dội. Ông nói với bạn bè: “Tôi đau dữ dội lắm.” Những cơn đau ngực tái diễn gần như mỗi chiều, khiến ông hoảng sợ và khó thở. Ông đặt bình oxy cạnh giường và thường xuyên ngưng mọi việc để nằm nghỉ, đeo mặt nạ thở. Dù các bác sĩ yêu cầu ông tuân thủ chế độ ăn ít calo và ít cholesterol, Johnson chỉ làm theo một cách thất thường. Ông cũng không từ bỏ thuốc lá.
Sau đó, ông bắt đầu gặp những cơn đau bụng nghiêm trọng. Các bác sĩ chẩn đoán ông mắc bệnh viêm túi thừa. Khi tình trạng tim chuyển biến xấu nhanh chóng, các bác sĩ đề nghị phẫu thuật. Johnson lập tức bay đến Houston để gặp bác sĩ tim mạch nổi tiếng Michael DeBakey. Sau khi kiểm tra, DeBakey kết luận rằng tình trạng của Johnson đã đến giai đoạn cuối. Ông phát hiện hai động mạch vành cần phẫu thuật bắc cầu ngay. Tuy nhiên, trái tim của Johnson đã quá yếu, đến mức nếu tiến hành phẫu thuật, ông khó có thể sống sót qua ca mổ.
Qua đời
Vào ngày 12 tháng 1 năm 1973, Johnson đã thu hình một cuộc phỏng vấn truyền hình kéo dài một giờ với nhà báo Walter Cronkite ngay tại trang trại của mình. Trong cuộc phỏng vấn, ông chia sẻ về di sản mà mình để lại, đặc biệt là phong trào đấu tranh cho quyền công dân. Ông vẫn hút thuốc rất nhiều, và còn nói với Cronkite rằng, "thà hút thuốc còn tốt cho tim hơn là cứ phải lo lắng."

Đến khoảng 3 giờ 40 phút chiều ngày 22 tháng 1 năm 1973, theo giờ miền Trung, Johnson lên cơn đau tim cuối cùng ngay trong phòng ngủ của mình. Ông cố gắng gọi cho các nhân viên Mật vụ đang ở trang trại. Khi họ đến, họ thấy ông vẫn đang cầm ống nghe điện thoại, bất tỉnh và "dường như đã qua đời". Họ nhanh chóng tiến hành hồi sức cấp cứu và đưa Johnson lên máy bay, chuyển đến Sân bay Quốc tế San Antonio, trên đường đến Trung tâm Y tế Quân đội Brooke. Tuy nhiên, bác sĩ tim mạch George McGranahan, đồng thời là một đại tá quân đội, đã tuyên bố ông tử vong ngay khi máy bay hạ cánh xuống sân bay, vào lúc 4 giờ 33 phút chiều. Johnson hưởng thọ 64 tuổi.
Ngay sau khi cựu tổng thống qua đời, thư ký báo chí của ông, Tom Johnson (không có quan hệ họ hàng), đã gọi điện cho Cronkite để báo tin. Lúc đó, Cronkite đang dẫn chương trình trực tiếp "CBS Evening News", nên ông có thể đưa tin về cái chết của Tổng thống Johnson ngay khi nhận được thông tin. Ngày hôm sau, trong bài phát biểu công bố thỏa thuận hòa bình chấm dứt Chiến tranh Việt Nam, Tổng thống Nixon đã nhắc đến sự ra đi của Johnson.
Tang lễ
Johnson được vinh dự tổ chức quốc tang long trọng. Ban đầu, người ta quàn thi hài của ông tại Thư viện Tổng thống LBJ ở Austin. Sau đó, họ đưa thi hài của ông đến Washington bằng máy bay. Tại Điện Capitol, các nghị sĩ Texas J. J. Pickle và cựu Ngoại trưởng Dean Rusk đã đọc điếu văn tiễn biệt ông.
Quốc tang diễn ra vào ngày 25 tháng 1 tại Nhà thờ Cơ đốc Quốc gia ở Washington, D.C., nơi Johnson thường xuyên lui tới khi còn là tổng thống. Tổng thống Nixon chủ trì buổi lễ, và nhiều chức sắc nước ngoài, dẫn đầu là Eisaku Satō, Thủ tướng Nhật Bản trong nhiệm kỳ của Johnson, đã đến tham dự. Mục sư George Davis của nhà thờ và W. Marvin Watson, Bộ trưởng Bưu điện cuối cùng của Johnson, đã đọc những lời điếu văn đầy xúc động.
Cùng ngày hôm đó, Johnson được an táng tại nghĩa trang gia đình ở Quận Gillespie, Texas, gần ngôi nhà nơi ông sinh ra. Mục sư Billy Graham cử hành buổi lễ, và ông cùng cựu thống đốc Texas Connally đã đọc điếu văn. Hàng trăm người đã đến tiễn đưa ông về nơi an nghỉ cuối cùng.
Quốc tang này, quốc tang cuối cùng dành cho một tổng thống cho đến tang lễ của Richard Nixon vào năm 1994, diễn ra cùng tuần với lễ nhậm chức nhiệm kỳ thứ hai của Nixon. Vì Johnson qua đời chỉ hai ngày sau lễ nhậm chức, nhiều hoạt động liên quan đến sự kiện này đã bị hủy bỏ.