Võ Nguyên Giáp, xuất phát từ nghề giáo viên dạy lịch sử, được công nhận là một trong những nhà lãnh đạo quân sự vĩ đại nhất trong lịch sử Việt Nam. Ông được nhiều tờ báo ca ngợi là anh hùng dân tộc, người được nhân dân Việt Nam tôn trọng và yêu mến. Trong quá trình học hỏi, Võ Nguyên Giáp chịu ảnh hưởng bởi những nhà lãnh đạo quân sự lừng danh như Carl von Clausewitz, Tôn Tử, George Washington, và Vladimir Lenin. Tuy nhiên, ông cho rằng hai nhân vật có ảnh hưởng sâu sắc nhất đến ông là T. E. Lawrence và Napoléon. Các phương tiện truyền thông phương Tây đã gán cho ông biệt danh "Napoleon đỏ" vì tài năng chỉ huy quân sự xuất sắc, đặc biệt là trong trận Điện Biên Phủ năm 1954, nơi ông đã dẫn dắt Quân đội Nhân dân Việt Nam đánh bại hoàn toàn quân Pháp, gây chấn động dư luận thế giới.
Ngoài khả năng chiến lược, Võ Nguyên Giáp còn được công nhận là một nhà hậu cần quân sự tài ba, và là kiến trúc sư chính của đường mòn Hồ Chí Minh, một kỳ công về kỹ thuật quân sự giúp vận chuyển vũ khí và quân lính từ miền Bắc vào miền Nam qua Lào và Campuchia. Đây là một trong những thành tựu đáng tự hào trong thế kỷ 20 về khả năng tổ chức và quản lý quân sự.
Võ Nguyên Giáp được ghi nhận là người có công lớn trong chiến thắng quân sự của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đối với quân đội Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa. Sự nghiệp quân sự của ông nổi bật hơn so với nhiều nhà lãnh đạo khác, với các tướng lĩnh như Văn Tiến Dũng và Hoàng Văn Thái sau này đảm nhận các nhiệm vụ quân sự cụ thể hơn. Tuy nhiên, ông vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển Quân đội Nhân dân Việt Nam thành một lực lượng chiến đấu mạnh mẽ và cơ giới hóa, có khả năng đánh bại Quân lực Việt Nam Cộng hòa trong cuộc chiến tranh kéo dài.
Thời niên thiếu
Gia đình của Võ Nguyên Giáp thuộc diện nghèo trong làng, sống chủ yếu dựa vào việc vay mượn nặng lãi từ các nhà giàu trong vùng, như gia đình Khóa Uy, một Hoa kiều giàu có ở làng Tuy Lộc gần đó. Võ Nguyên Giáp nhớ lại những lần theo mẹ chèo thuyền chở thóc đi trả nợ. Mặc dù còn nhỏ, nhưng những câu chuyện mà mẹ ông kể mỗi đêm về tướng quân Tôn Thất Thuyết phò vua Hàm Nghi phát động phong trào Cần Vương, cùng những bài vè của cha ông về phong trào đánh Pháp, đã tạo dựng trong tâm hồn cậu bé những ấn tượng sâu sắc, góp phần hình thành ý chí và niềm tin vào sự nghiệp cách mạng sau này.
Cha của Võ Nguyên Giáp là một nhà Nho, rất nghiêm khắc trong việc dạy dỗ con cái cả về học hành lẫn sinh hoạt gia đình. Ông luôn nhấn mạnh với các con rằng "Chữ Nho là chữ của Thánh hiền, là nho sinh, các con không được nghịch ngợm, dẫm đạp lên sách vở chữ Nho". Các con của ông, trong đó có Võ Nguyên Giáp, được học các sách cổ điển như Tam thiên tự, Ngũ thiên tự và Ấu học tân thư. Mặc dù thời gian học chữ Nho không dài, nhưng những bài học về đạo lý và nhân văn từ các sách của Thánh hiền đã ảnh hưởng sâu sắc đến suốt cuộc đời ông. Qua sách Ấu học tân thư, cậu Giáp được biết đến những tấm gương quên mình bảo vệ Tổ quốc, từ đó hình thành trong cậu niềm tự hào về lịch sử và các chiến công của cha ông.
Khi học xong lớp 3, Võ Nguyên Giáp phải rời quê xuống thị xã Đồng Hới để học tiếp. Đồng Hới, nằm cách làng An Xá hơn 20 km, là tỉnh lỵ của Quảng Bình, nổi bật với thành cổ Gia Long và Minh Mạng. Tại đây, ông ở trọ nhà người quen và được gia đình chủ nhà yêu mến, coi như con cháu trong nhà, miễn phí tiền trọ. Võ Nguyên Giáp học với thầy Đào Duy Anh, một nhà sư phạm có tiếng, và luôn đứng đầu lớp. Khi tốt nghiệp bậc sơ học, ông đỗ thủ khoa toàn tỉnh, điều này rất đáng tự hào vào thời điểm mà thực dân Pháp hạn chế việc mở trường học và duy trì nạn mù chữ.
Mặc dù học giỏi, vào năm 13 tuổi (1923-1924), Võ Nguyên Giáp thi trượt vào trường Quốc học Huế, nơi chỉ tuyển 90 học sinh từ 12 tỉnh miền Trung. Tuy nhiên, vào năm 1925, ông quyết tâm thi lại và đỗ thứ hai, chỉ sau Nguyễn Thúc Hào. Trong suốt 2 năm học tại đây, ông luôn đứng đầu lớp, ngoại trừ một tháng bị rớt xuống hạng nhì. Thời gian này, ông đã có vài lần đến thăm nhà yêu nước Phan Bội Châu, nơi ông được thuyết giảng về lý tưởng cách mạng. Những hình ảnh các tư tưởng gia như Tôn Dật Tiên, Lenin, và Đức Phật Thích Ca đã thúc đẩy cậu Giáp tiếp tục đam mê với những lý tưởng cách mạng.
Năm 1927, sau khi tham gia tổ chức một cuộc bãi khóa, Võ Nguyên Giáp cùng với Nguyễn Chí Diểu, Nguyễn Khoa Văn và Phan Bôi bị đuổi học. Ông trở về quê và được Nguyễn Chí Diểu giới thiệu tham gia Tân Việt Cách mạng Đảng, một đảng theo chủ nghĩa dân tộc nhưng mang sắc thái cộng sản. Tại đây, ông bắt đầu công việc làm báo, tiếp tục học nghề và chuẩn bị cho giai đoạn hoạt động báo chí trong Mặt trận Bình dân Pháp.
Thời thanh niên
Vào tháng 4 năm 1927, một cuộc bãi khóa lớn đã diễn ra tại Trường Quốc học Huế, nhằm phản đối các chính sách của nhà cầm quyền Pháp. Nguyễn Chí Diểu, một trong những học sinh nổi bật trong phong trào này, bị giám thị Pháp chú ý và bị đuổi học vì bị coi là kẻ cầm đầu. Võ Nguyên Giáp, cùng với Nguyễn Khoa Văn, đã tổ chức tiếp tục cuộc bãi khóa để phản đối việc Diểu bị đuổi học. Cuộc bãi khóa lan rộng ra các trường học ở Huế và trở thành một phong trào tổng bãi khóa. Kết quả là, Võ Nguyên Giáp bị bắt và đuổi học, phải trở về quê nhà.
Một thời gian sau, Nguyễn Chí Diểu lặn lội từ Huế về làng An Xá để gặp Võ Nguyên Giáp, mang theo những tài liệu quan trọng. Trong đó có cuốn "Liên đoàn các dân tộc bị áp bức trên thế giới" và một số văn kiện của Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội ở Quảng Châu, trong đó có hai bài phát biểu của Nguyễn Ái Quốc. Võ Nguyên Giáp đọc những bài viết này và cảm thấy xúc động sâu sắc. Ông nhớ lại: "Bài luận của Nguyễn Ái Quốc đã làm chúng tôi cảm nhận một sự căm phẫn sâu sắc như một luồng điện giật." Đây là bước đầu tiên trong mối liên kết giữa Võ Nguyên Giáp và Hồ Chí Minh, cũng là dấu mốc quan trọng trong sự nghiệp cách mạng của ông.
Mùa hè năm 1928, Võ Nguyên Giáp quay lại Huế và bắt đầu tham gia vào hoạt động cách mạng. Tại đây, Nguyễn Chí Diểu giới thiệu ông đến làm việc tại Quan Hải Tùng thư, một nhà xuất bản do Tổng bộ Tân Việt sáng lập. Tại đây, ông được tiếp xúc với các học thuyết về kinh tế, xã hội và cách mạng, đặc biệt là cuốn "Bản án chế độ thực dân Pháp" và tờ báo "Người cùng khổ" của Nguyễn Ái Quốc.
Vào đầu tháng 10 năm 1930, trong bối cảnh cuộc nổi dậy Xô Viết Nghệ Tĩnh, Võ Nguyên Giáp bị bắt và giam tại Nhà lao Thừa Phủ (Huế) cùng với người yêu Nguyễn Thị Quang Thái, em trai Võ Thuần Nho và các giáo sư như Đặng Thai Mai, Lê Viết Lượng. Sau này, Nguyễn Thị Quang Thái trở thành vợ đầu tiên của ông và sinh cho ông một con gái, Võ Hồng Anh. Tuy nhiên, năm 1940, Nguyễn Thị Quang Thái bị Pháp bắt và chết trong tù, khi còn rất trẻ. Bà được nhớ đến như một người phụ nữ kiên trung, yêu nước.
Cuối năm 1931, nhờ sự can thiệp của Hội Cứu tế Đỏ của Pháp, Võ Nguyên Giáp được thả tự do, nhưng không được phép ở lại Huế. Ông lên Hà Nội, học tại trường Albert Sarraut và tốt nghiệp với bằng cử nhân luật năm 1937. Tuy nhiên, vì quá bận rộn với công tác cách mạng, ông đã bỏ dở chương trình học về Kinh tế Chính trị và không lấy bằng Luật sư.
Trong giai đoạn từ 1936 đến 1939, Võ Nguyên Giáp tham gia phong trào Mặt trận Dân chủ Đông Dương, là một trong những sáng lập viên của mặt trận và là Chủ tịch Ủy ban Báo chí Bắc Kỳ. Ông cũng tham gia thành lập và làm báo, biên tập các ấn phẩm như Notre voix, Le Travail, Tin tức và Dân chúng.
Vào tháng 5 năm 1939, Võ Nguyên Giáp nhận dạy môn lịch sử tại Trường Tư thục Thăng Long ở Hà Nội. Học sinh của ông luôn đánh giá ông là một giáo viên xuất sắc, không chỉ là một nhà sử học mà còn là một trạng sư nhiệt tình, luôn bênh vực tính chính nghĩa của lịch sử. Những học trò của ông, như Bùi Diễm sau này trở thành đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Mỹ, nhớ về ông như một người say mê cách mạng và các trận chiến. Võ Nguyên Giáp thường tự ví mình với Napoleon, một hình tượng mà ông rất kính trọng, và trong các buổi phỏng vấn, ông còn thể hiện điệu bộ như hoàng đế Napoleon đang độc thoại.
Bắt đầu sự nghiệp quân sự
Kháng chiến chống Pháp, Nhật trong Chiến tranh thế giới thứ hai
Vào ngày 3 tháng 5 năm 1940, Võ Nguyên Giáp, lúc này sử dụng bí danh Dương Hoài Nam (楊懷南), cùng với Phạm Văn Đồng, đã lên Lào Cai rồi vượt biên sang Trung Quốc để gặp Hồ Chí Minh.
Ngay sau khi gặp mặt, Hồ Chí Minh nhận thấy Võ Nguyên Giáp là một người có triển vọng và đã liên lạc với Đảng Cộng sản Trung Quốc để cử ông đi học quân sự tại căn cứ Diên An. Tuy nhiên, trong chuyến đi đến Diên An, Hồ Chí Minh đã gọi ông quay lại vì tình hình quốc tế có nhiều biến động lớn. Phát xít Đức đã xâm chiếm Pháp, và Hồ Chí Minh nhận định tình hình Đông Dương sẽ thay đổi nhanh chóng, vì vậy cần phải trở về nước ngay để chuẩn bị đón thời cơ.
Năm 1940, Võ Nguyên Giáp gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương và bắt đầu tham gia hoạt động trong tổ chức Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội, một phong trào đấu tranh chống phát xít và giành độc lập cho Việt Nam. Vào dịp Tết Nguyên đán Tân Tỵ năm 1941, ông cùng Hồ Chí Minh trở về Cao Bằng. Tại hang Pác Bó, Hồ Chí Minh dự đoán rằng cách mạng sẽ thành công vào năm 1945, một dự đoán chính xác: "Trong 5 năm nữa (tính từ 1941) cách mạng sẽ thành công, điều chúng ta mong đợi sẽ tỏa sáng". Câu nói này đã mang lại niềm tin vững vàng cho Võ Nguyên Giáp và các đồng chí trong hành trình cách mạng.
Cuộc sống tại Việt Bắc lúc bấy giờ vô cùng khó khăn, Võ Nguyên Giáp kể lại: "Tìm được cái ăn đã là một chiến công. Chúng tôi phải chia nhau từng củ sắn, từng bắp ngô". Dù nhiều người băn khoăn, lo lắng về việc cách mạng sẽ thành công hay không khi không có vũ khí, Võ Nguyên Giáp luôn nhớ lời dạy của Hồ Chí Minh: "Chúng ta sẽ dựa vào sức mình là chính, cùng với một ít viện trợ từ nước ngoài. Mọi việc đều do nhân dân mà nên. Người trước, súng sau, có nhân dân là có tất cả."
Trong giai đoạn này, Võ Nguyên Giáp tham gia vào việc xây dựng cơ sở cách mạng và mở các lớp huấn luyện quân sự cho Việt Minh tại Cao Bằng. Đồng thời, ông cũng đối mặt với sự gia tăng các cuộc tấn công của Pháp vào Việt Bắc. Những ai mang tài liệu của Việt Minh đều bị giết ngay lập tức. Võ Nguyên Giáp chia sẻ rằng trong những lúc nguy hiểm đó, ông thường mang theo một quả lựu đạn, để nếu bị bắt, ông có thể tự kết thúc cuộc đời mình và kéo theo vài tên lính Pháp cùng chết.
Thành lập đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân
Vào ngày 22 tháng 12 năm 1944, dưới sự chỉ đạo của Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp đã thành lập đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân tại chiến khu Trần Hưng Đạo, với lực lượng ban đầu chỉ có 34 người. Đội quân này được trang bị rất hạn chế, với 2 súng thập (súng ngắn), 17 súng trường, 14 súng kíp và 1 súng máy. Đây chính là tổ chức tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Chỉ ba ngày sau, vào ngày 25 tháng 12 năm 1944, dưới sự chỉ huy của Võ Nguyên Giáp, đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã thực hiện chiến công đầu tiên, thành công trong việc tập kích và tiêu diệt hai đồn Phai Khắt và Nà Ngần, mở ra những bước đi quan trọng trong công cuộc đấu tranh vũ trang.
Đến ngày 14 tháng 8 năm 1945, Võ Nguyên Giáp được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, và sau đó được bầu vào Ủy viên Thường vụ Trung ương, tham gia tích cực vào công tác chuẩn bị và lãnh đạo cuộc Khởi nghĩa toàn quốc, góp phần quan trọng trong việc giành lại độc lập cho đất nước.
Tham gia thành lập Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công và nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập, Võ Nguyên Giáp được giao nhiệm vụ quan trọng trong Chính phủ lâm thời. Từ ngày 28 tháng 8 đến cuối năm 1945, ông đảm nhận chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Phó Bộ trưởng (Thứ trưởng thường trực) Bộ Quốc phòng. Đến năm 1946, ông còn được bổ nhiệm làm Tổng chỉ huy Quân đội Quốc gia và Dân quân tự vệ.
Ngay sau khi Chính phủ Cách mạng Lâm thời được thành lập, Võ Nguyên Giáp thay mặt Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành các sắc lệnh nhằm giải tán một số đảng phái, với lý do các đảng này có hành vi "tư thông với ngoại quốc", làm tổn hại đến nền độc lập của Việt Nam. Các đảng như Việt Nam Quốc xã, Đại Việt Quốc dân đảng bị xử lý vì những hoạt động được coi là "phản cách mạng". Mục đích là bảo vệ chính quyền non trẻ và giáo dục nhân dân về tinh thần cảnh giác. Bên cạnh đó, Hồ Chí Minh cũng cho phép Ty Liêm phóng bắt những người bị coi là mối nguy hiểm cho nền dân chủ của Việt Nam.
Đồng thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng ký sắc lệnh giải tán các nghiệp đoàn để kiểm soát nền kinh tế và thống nhất các tổ chức thanh niên vào Đoàn Thanh niên Cứu quốc Việt Nam. Chính phủ còn ban hành các sắc lệnh thành lập Hội đồng Nhân dân và Ủy ban hành chính địa phương các cấp, nhằm củng cố bộ máy chính quyền tại các địa phương.
Trong khi đó, hơn 200.000 quân Tưởng Giới Thạch, theo chỉ đạo của phe Đồng Minh, đã tiến vào miền Bắc Việt Nam với nhiệm vụ giải giáp quân Nhật. Tuy nhiên, theo Việt Minh, đội quân này mang theo kế hoạch "Diệt Cộng Cầm Hồ". Lực lượng Quốc dân Đảng Trung Quốc đã tiến hành các hoạt động cướp bóc trên đường di chuyển từ phía Bắc vào Hà Nội. Trong hồi ký Những năm tháng không thể nào quên, Võ Nguyên Giáp mô tả quân đoàn 62 của Vũ Kim Thành cùng với Việt Cách đã tàn phá dọc miền Đông Bắc Bắc Kỳ. Các lực lượng của Vũ Hồng Khanh (Việt Nam Quốc dân Đảng) và Nguyễn Tường Tam (Đại Việt) cũng đã thực hiện những hành vi tương tự dọc theo hành lang Tây Bắc, từ Lào Cai đến Yên Bái và Phú Thọ.
Võ Nguyên Giáp cũng chỉ trích các lãnh đạo của Việt Quốc, Việt Cách, cho rằng họ thực tế không phải là những người yêu nước, mà chỉ là những kẻ "phản động" đang lợi dụng sự giúp đỡ của Trung Quốc để làm giàu cho bản thân, đồng thời tố cáo Trung Hoa Quốc dân Đảng đã tô vẽ cho những "kẻ phản bội" người Việt.

Vào các ngày 18 và 19 tháng 9 năm 1945, Việt Minh đã tổ chức các cuộc họp bí mật với đại diện các tổ chức Việt Cách và Việt Quốc. Trong các cuộc họp này, Nguyễn Hải Thần, đại diện cho Việt Cách, và Nguyễn Tường Tam, đại diện cho Việt Nam Quốc dân Đảng, đã đề nghị Hồ Chí Minh đồng ý hợp nhất Việt Minh với các đảng phái này. Tuy nhiên, trong nội bộ Việt Minh, có sự tranh cãi về đề xuất này. Hoàng Minh Giám cho rằng việc hợp nhất với các đảng phái quốc gia có thể làm giảm bớt sự đối kháng, củng cố thêm lực lượng cho Việt Minh và giúp tạo dựng hình ảnh chính phủ thật sự dân chủ trong mắt quốc tế, đặc biệt là đối với các nước đồng minh, như Mỹ. Trong khi đó, Võ Nguyên Giáp kiên quyết phản đối, ông cho rằng đó là một kế hoạch không thành thật và thực chất chỉ là thay thế sự thống trị của thực dân Pháp bằng ảnh hưởng của Trung Quốc, điều mà nhân dân Việt Nam sẽ không bao giờ chấp nhận. Cuối cùng, Việt Minh đã từ chối đề xuất này và quyết định không hợp nhất với Việt Cách và Việt Nam Quốc dân Đảng.
Vào ngày 1 tháng 1 năm 1946, một hội nghị hòa giải được tổ chức giữa các đảng phái đối lập, bao gồm Việt Nam Quốc dân Đảng, Việt Nam Cách mạng Đồng minh hội và Việt Minh, do tướng Tiêu Văn tổ chức. Kết quả là Chính phủ Liên hiệp Lâm thời được thành lập, thay thế Chính phủ Cách mạng Lâm thời. Chính phủ này bao gồm một số đại diện từ các đảng phái đối lập như Việt Cách và Việt Quốc, hoạt động ở Trung Quốc dưới sự bảo trợ của Trung Hoa Quốc Dân Đảng. Tuy nhiên, quyền lực của các Bộ trưởng từ các đảng phái này bị hạn chế, và họ không có quyền tham gia vào các cuộc họp của nội các, cũng như không có quyền quyết định các vấn đề quan trọng như nhân sự hay quân số.
Ngày 6 tháng 1 năm 1946, Chính phủ Liên hiệp Lâm thời, do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu, đã tổ chức cuộc Tổng tuyển cử trên toàn quốc để bầu ra Quốc hội và thông qua Hiến pháp. Mặc dù một số đảng phái phản đối và tuyên truyền để dân chúng tẩy chay cuộc bầu cử, Võ Nguyên Giáp cho rằng họ không tham gia bầu cử vì biết rằng họ không có sự ủng hộ từ nhân dân như Việt Minh. Theo Báo Đại đoàn kết, dù bị các đảng phái phản đối, cuộc bầu cử vẫn diễn ra với sự tham gia rộng rãi của người dân, và các cuộc tranh cử công khai diễn ra ở khắp nơi, mặc dù lá phiếu không hoàn toàn bí mật. Một số sử gia, như Trần Trọng Kim, cho rằng có nơi, người dân bị ép buộc phải bầu cho Việt Minh.
Kết quả bầu cử không như những gì các đảng phản đối đã tuyên truyền. Nhiều đại biểu, bao gồm các giai cấp, tầng lớp và tôn giáo khác nhau, đã được bầu vào Quốc hội khóa I, và phần lớn trong số họ chưa phải là đảng viên Việt Minh. Võ Nguyên Giáp đã được bầu làm đại biểu Quốc hội khóa đầu tiên và tiếp tục đảm nhận vai trò này trong sáu kỳ Quốc hội tiếp theo.
Sau khi Quốc hội được bầu, vào ngày 2 tháng 3 năm 1946, Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến được thành lập để thay thế Chính phủ Liên hiệp Lâm thời. Các cấp chính quyền liên hiệp tiếp tục được thành lập tại các địa phương trong năm 1946. Mặc dù các đảng phái đối lập, bao gồm Việt Nam Cách mạng Đồng minh hội và Việt Nam Quốc dân Đảng, không tham gia bầu cử, họ vẫn được Trung Hoa Dân quốc ủng hộ và nắm giữ 70 ghế trong Quốc hội cùng nhiều vị trí trong chính quyền trung ương. Trong hồi ký Những năm tháng không thể nào quên, Võ Nguyên Giáp nhận định rằng các đảng phái này đã không tham gia bầu cử vì sợ thất bại trước sự ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân dành cho Việt Minh. Thay vào đó, họ dựa vào sự ủng hộ từ Trung Hoa Dân quốc để giành ghế trong Quốc hội mà không qua bầu cử.
Cũng trong năm 1946, Võ Nguyên Giáp kết hôn với bà Đặng Bích Hà, con gái của giáo sư Đặng Thai Mai.
Trấn áp các đảng phái chống Chính phủ
Trong quá trình hoạt động của Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến, một trong những ưu tiên quan trọng là bảo vệ nền độc lập và ổn định của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Chính phủ đã kêu gọi các đảng phái đoàn kết để phục vụ quốc gia, đồng thời thực hiện các chính sách về kinh tế, quốc phòng, văn hóa và giáo dục để củng cố chính quyền non trẻ.
Tuy nhiên, các tổ chức như Việt Nam Quốc dân Đảng (VNQDD) và Đại Việt Quốc dân đảng đã tổ chức nhiều đội vũ trang như "Thần lôi đoàn", "Thiết huyết đoàn" và "Hùm xám". Những đội quân này không ngừng thực hiện các hành động bạo lực, như cướp có vũ trang, bắt cóc, tống tiền và ám sát những người ủng hộ Việt Minh, thậm chí cả những người trung lập. Một trong những nạn nhân điển hình là ông Ba Viên, bị nghi ngờ là gián điệp của Pháp, sau khi gặp Hồ Chí Minh, ông đã bị bắt và hành quyết bởi Việt Nam Quốc dân Đảng. Sau đó, những tổ chức này đã tuyên truyền rằng Việt Minh không thể duy trì trật tự an ninh tại Hà Nội và một số khu vực ở Bắc Bộ.
Điều đáng lo ngại nhất là sự can thiệp mạnh mẽ của quân Trung Hoa Dân Quốc, gây sức ép để các thành viên Việt Nam Quốc dân Đảng chiếm giữ những vị trí quan trọng trong chính phủ. Võ Nguyên Giáp, trong hồi ký của mình, đã chỉ trích các đảng phái này, cho rằng họ thực chất là những "kẻ phản động" đang phục vụ lợi ích của Trung Hoa Quốc dân Đảng, và quân lực của họ chỉ nhằm "nhặt nhạnh cơm thừa canh cặn". Ông còn dẫn lời của Thiếu tá Al Patti, một quan chức Mỹ thuộc OSS và bạn của Võ Nguyên Giáp, người cũng cho rằng các đảng phái này không hiểu được nhu cầu thực sự của nhân dân và chỉ chăm chăm vào việc tranh giành quyền lực với Việt Minh, mà không có bất kỳ kế hoạch rõ ràng nào.
Để đối phó với tình hình này, Hồ Chí Minh giao cho Võ Nguyên Giáp và Trần Quốc Hoàn, sau này là Bộ trưởng Bộ Công an, nhiệm vụ giải quyết các cuộc biểu tình của các đảng phái đối lập như Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách mạng Đồng minh hội. Võ Nguyên Giáp nhớ lại rằng trong quá trình xử lý các cuộc biểu tình, họ phải hết sức cẩn trọng để tránh gây ra xung đột lớn, dù đôi khi quân đội Trung Quốc cũng phải can thiệp để duy trì trật tự.
Võ Nguyên Giáp rất tức giận với sự chống đối của các đảng phái này, vì điều đó không chỉ làm chậm trễ nỗ lực đối phó với Pháp mà còn tạo ra nguy cơ từ phía quân đội Trung Hoa. Một số đảng phái đối lập, đặc biệt là những tổ chức thân Trung Hoa, đã sử dụng sự giúp đỡ từ Trung Hoa Dân quốc để tác động chính trị, thậm chí thả truyền đơn nhằm kích động sự chống đối. Tuy nhiên, Hồ Chí Minh luôn khuyên Võ Nguyên Giáp kiên nhẫn và tránh đối đầu trực tiếp với các nhóm đối lập này, vì theo ông, dù yếu kém, nhưng họ có sự bảo vệ từ Trung Quốc.
Khi Hiệp định sơ bộ được ký với Pháp vào tháng 3 năm 1946, quân Pháp được phép vào miền Bắc thay thế quân Trung Hoa, và những nhóm đối lập này lo sợ mất đi sự bảo vệ từ Trung Hoa Dân quốc. Các nhóm này đã cài cắm người vào đám đông, kích động nhân dân và gây bạo loạn, với mục đích phá vỡ hiệp định và gây xung đột giữa Việt Nam và Pháp. Một sự kiện đáng chú ý là một kẻ giấu mặt đã ném lựu đạn vào đám đông, nhưng may mắn quả lựu đạn không nổ vì kẻ này quên rút chốt.
Sự hiện diện của quân đội Tưởng Giới Thạch đã giúp duy trì sự tồn tại của các đảng phái như Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội, nhưng những đảng này thiếu một chương trình chính trị rõ ràng và không có khả năng thu hút sự ủng hộ rộng rãi từ dân chúng như Việt Minh. Những lãnh đạo của Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội cũng không thể so sánh với Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp và những người đứng đầu Việt Minh về phẩm chất lãnh đạo và tầm nhìn chiến lược.
Khi quân đội Tưởng Giới Thạch rút khỏi Việt Nam vào ngày 15 tháng 6 năm 1946, các đảng phái theo chủ nghĩa quốc gia mất đi chỗ dựa quan trọng. Trước tình hình đó, Võ Nguyên Giáp quyết định Việt Minh phải hoàn toàn kiểm soát bộ máy chính quyền và loại bỏ những kẻ đối lập trong nội bộ để tập trung đối phó với Pháp. Ông đã hành động quyết liệt, ra sức dọn dẹp các đảng phái như Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội, được Trung Hoa Quốc Dân Đảng ủng hộ, và Việt Nam Quốc dân Đảng, tổ chức mà theo Cecil B. Currey, chỉ mượn danh cách mạng từ phong trào của Nguyễn Thái Học năm 1930. Theo David G. Marr, vào cuối năm 1945, nhiều người dân vẫn không tin rằng Việt Nam Quốc dân Đảng đã phản bội sự nghiệp cách mạng như các đảng Cộng sản tuyên truyền. Ngoài ra, các nhóm như Đại Việt, những người Trotskyist, những người quốc gia chống Pháp và các tổ chức Công giáo cũng trở thành mục tiêu trong chiến dịch loại bỏ của Võ Nguyên Giáp.
Vào ngày 19 tháng 6 năm 1946, Báo Cứu Quốc của Tổng bộ Việt Minh đã đăng một xã luận mạnh mẽ chỉ trích những kẻ "phản động" phá hoại Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt ký ngày 6 tháng 3. Ngay sau đó, Võ Nguyên Giáp bắt đầu triển khai chiến dịch truy quét các đảng phái đối lập bằng lực lượng công an và quân đội do Việt Minh kiểm soát, với sự hỗ trợ của quân Pháp. Ông còn sử dụng các binh lính Nhật Bản tình nguyện ở lại Việt Nam và một số vũ khí do Pháp cung cấp để thực hiện chiến dịch, ví dụ như khẩu pháo ở Hòn Gai do quân Pháp cung cấp để tiêu diệt các vị trí do quân Đại Việt chiếm giữ.
Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến được thành lập nhằm tạo ra một khối đại đoàn kết giữa các đảng phái. Tuy nhiên, sau vụ án phố Ôn Như Hầu, mục tiêu của Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến đã không còn ý nghĩa và bị mất đi.
Chiến tranh Đông Dương lần 1
Vào ngày 19 tháng 12 năm 1946, Chiến tranh Đông Dương chính thức bắt đầu, đánh dấu một giai đoạn lịch sử quan trọng trong cuộc đấu tranh giành độc lập của Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam, Võ Nguyên Giáp đã bắt đầu chỉ huy cuộc kháng chiến vũ trang kéo dài suốt 9 năm, từ năm 1945 đến 1954, chống lại sự tái chiếm của quân đội Pháp.
Trong suốt giai đoạn này, Võ Nguyên Giáp giữ vai trò Tổng chỉ huy và Tổng Chính ủy của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Đến năm 1949, ông được đổi tên chức danh thành Tổng tư lệnh quân đội kiêm Bí thư Tổng Quân ủy, tiếp tục dẫn dắt quân đội và nhân dân Việt Nam kiên cường chống lại quân xâm lược Pháp, đến khi giành chiến thắng vang dội trong trận Điện Biên Phủ năm 1954.
Đại tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam

Võ Nguyên Giáp, dù không được đào tạo tại các trường quân sự trước đó và không trải qua các cấp bậc quân hàm trong quân đội, đã được phong quân hàm Đại tướng vào ngày 28 tháng 5 năm 1948 theo sắc lệnh 110/SL ký ngày 20 tháng 1 năm 1948. Ông trở thành Đại tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam khi chỉ mới 37 tuổi. Trong một lần trả lời phóng viên nước ngoài về tiêu chí phong tướng, Hồ Chí Minh đã chia sẻ: "Đánh thắng đại tá phong đại tá, đánh thắng thiếu tướng phong thiếu tướng, thắng trung tướng phong trung tướng, thắng đại tướng phong đại tướng". Cùng đợt phong hàm với Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Bình được phong Trung tướng; còn Nguyễn Sơn, Lê Thiết Hùng, Chu Văn Tấn, Hoàng Sâm, Hoàng Văn Thái, Lê Hiến Mai, Văn Tiến Dũng, Trần Đại Nghĩa, Trần Tử Bình được phong Thiếu tướng.
Vào tháng 7 năm 1948, Võ Nguyên Giáp giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tổng Chỉ huy Quân đội Quốc gia và Dân quân Việt Nam. Đến tháng 8 năm 1948, ông trở thành Ủy viên Hội đồng Quốc phòng Tối cao mới được thành lập.
Từ tháng 8 năm 1945, Võ Nguyên Giáp là một trong năm Ủy viên Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương và từ năm 1951, ông trở thành Ủy viên Bộ Chính trị (thay thế Ban Thường vụ Trung ương) Đảng Lao động Việt Nam.
Giống như nhiều danh tướng Việt Nam trong lịch sử, Võ Nguyên Giáp đặc biệt chú trọng vào nghệ thuật "lấy ít địch nhiều", "lấy yếu chế mạnh", "lấy thô sơ thắng hiện đại". Tư tưởng quân sự nổi tiếng của ông, được gọi là Chiến tranh Nhân dân, kế thừa quan điểm quân sự của Hồ Chí Minh, tinh hoa nghệ thuật đánh giặc của tổ tiên, tri thức quân sự thế giới và lý luận quân sự Mác-Lênin. Những lý luận này được đúc kết từ kinh nghiệm cá nhân của ông, liên tục được cập nhật qua nhiều cuộc chiến tranh, đặc biệt là trong chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ.
Trong suốt 9 năm kháng chiến chống Pháp, Võ Nguyên Giáp đã đưa ra những sáng kiến quan trọng nhằm phát huy sức mạnh quân sự, và những sáng kiến này đã trở thành những kinh nghiệm quý báu, chẳng hạn như mô hình "Đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung". Với sự giúp đỡ của các chuyên gia quân sự Trung Quốc trong việc huấn luyện quân đội, ông đã chỉ đạo chiến sĩ học tập, tiếp thu và nghiên cứu kỹ lưỡng các phương pháp của nước bạn. Đồng thời, ông cũng nhắc nhở cán bộ, sĩ quan phải luôn nhớ rằng việc tiết kiệm sinh mạng bộ đội là rất quan trọng, vì Việt Nam là một quốc gia nhỏ không thể nuôi dưỡng một quân đội quá đông đảo.
Vào năm 1954, Võ Nguyên Giáp được Hồ Chí Minh và Đảng Lao động tin tưởng giao toàn quyền chỉ huy Chiến dịch Điện Biên Phủ. Trước khi ông ra trận, Hồ Chí Minh đã nhắc nhở: "Cho chú toàn quyền chỉ huy. Trận này chỉ được thắng, không được thua, vì thua là hết vốn." Võ Nguyên Giáp đã lên kế hoạch và chỉ huy 5 trong số 6 sư đoàn bộ binh chủ lực của Quân đội Nhân dân Việt Nam thời điểm đó, gồm các sư đoàn 308, 304, 312, 316 và Đại đoàn sơn pháo 351 để tấn công Điện Biên Phủ. Sau 56 ngày đêm chiến đấu, quân đội nhà nghề hiện đại của Liên hiệp Pháp đã bị đánh bại. Chiến thắng này đã chấm dứt sự thống trị của Pháp tại Đông Dương sau 83 năm và đưa Võ Nguyên Giáp vào lịch sử thế giới như một danh tướng quân sự Việt Nam, một người hùng của các quốc gia thuộc Thế giới thứ ba đang bị thực dân châu Âu đô hộ.
Sau chiến thắng này, những người dân bị áp bức đã coi Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp là thần tượng, là hình mẫu để quyết tâm lật đổ chế độ thực dân và xây dựng nền độc lập cho dân tộc mình. Năm 1962, trong lời đề tựa của cuốn Đêm thực dân (La Nuit Coloniale), nhà lãnh đạo giải phóng dân tộc Ferhat Abbas, người sau này trở thành tổng thống đầu tiên của Algeria, đã viết: "Điện Biên Phủ không chỉ là một chiến thắng quân sự. Đó là sự khẳng định của nhân dân châu Á và châu Phi trước người châu Âu. Đó là xác nhận về nhân quyền trên quy mô toàn cầu. Tại Điện Biên Phủ, nước Pháp đã đánh mất sự hiện diện hợp lý duy nhất, đó là lý lẽ của kẻ mạnh." Năm 2013, Tổng thống Algeria Abdelaziz Bouteflika đã gọi Võ Nguyên Giáp là người anh hùng quân đội của nền độc lập Việt Nam, là nhà chiến lược vĩ đại đã khiến thực dân Pháp phải kinh hoàng tại Điện Biên Phủ, và khẳng định rằng tên tuổi của ông "sẽ mãi mãi khắc sâu trong ký ức của nhân dân Algeria."

Các chiến dịch
Các chiến dịch ông đã tham gia với tư cách là Tư lệnh chiến dịch - Bí thư Đảng ủy trong kháng chiến chống Pháp cùng với Thiếu tướng Hoàng Văn Thái làm tham mưu trưởng chiến dịch:
- Chiến dịch Việt Bắc (thu đông 1947)
- Chiến dịch Biên giới (tháng 9 - 10, năm 1950)
- Chiến dịch Trung Du (tháng 12 năm 1950)
- Chiến dịch Đông Bắc (năm 1951)
- Chiến dịch Đồng Bằng (tháng 5 năm 1951)
- Chiến dịch Hòa Bình (tháng 12 năm 1951)
- Chiến dịch Tây Bắc (tháng 9 năm 1952)
- Chiến dịch Thượng Lào (tháng 4 năm 1953)
- Chiến dịch Điện Biên Phủ (tháng 3 - 5 năm 1954)
Thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ mang đậm việc tạo thế, tổ chức hậu cần, thay đổi chiến thuật. Sau chiến dịch này, Hiệp định Genève về Đông Dương được ký kết, đặt dấu chấm hết cho sự có mặt của người Pháp ở Việt Nam sau hơn 80 năm.
Chiến tranh Đông Dương lần 2
Từ năm 1954 đến 1976, Võ Nguyên Giáp tiếp tục đảm nhận nhiều chức vụ quan trọng trong chính phủ và quân đội Việt Nam. Ông là Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Quân ủy Trung ương, Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam, và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Đồng thời, ông còn giữ chức Phó Thủ tướng Chính phủ, sau là Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng từ năm 1955 đến năm 1991.
Từ tháng 3 năm 1960, dưới sự lãnh đạo của Lê Duẩn, Bí thư Thứ nhất Đảng Lao động Việt Nam, Võ Nguyên Giáp bắt đầu làm việc trực tiếp với Bộ Chính trị. Lê Duẩn, người có quan điểm cứng rắn sau khi trải qua những năm tháng khó khăn trong nhà tù, đã chứng kiến những biến động tại miền Nam sau Hiệp định Genève, đặc biệt là cuộc Tố cộng - Diệt cộng do Ngô Đình Diệm phát động. Lê Duẩn chủ trương sử dụng đấu tranh quân sự để "đánh đuổi quân Mỹ, tiêu diệt chế độ tay sai và giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước".
Mặc dù Võ Nguyên Giáp thường xuyên viết hồi ký, ông chưa bao giờ xuất bản cuốn sách nào về giai đoạn từ 1954 đến 1971. Đây là khoảng thời gian Lê Duẩn từ vị trí lãnh đạo Trung ương Cục miền Nam chuyển sang điều hành Bộ Chính trị. Theo các sử gia phương Tây, Lê Duẩn đánh giá cao tài năng quân sự của Võ Nguyên Giáp, nhưng ông không hài lòng về việc lãnh đạo Việt Minh đồng ý rút quân ra Bắc theo Hiệp định Genève, điều này đã khiến nhiều cán bộ Việt Minh còn lại tại miền Nam bị tàn sát vì không có lực lượng vũ trang bảo vệ.
Theo Pierre Asselin, khi chiến tranh chống Mỹ ở miền Nam Việt Nam bắt đầu vào năm 1964, Võ Nguyên Giáp trở thành "một biểu tượng của cuộc chiến tranh chống Mỹ" và là người "tiếp thị" cho những đồng chí trong Đảng, những người không có danh tiếng hoặc sự thu hút quốc tế như ông. Asselin cũng cho rằng chiến lược Tổng tấn công Tết Mậu Thân năm 1968 là do Lê Duẩn xây dựng, với Võ Nguyên Giáp chỉ đóng vai trò góp ý. Lê Duẩn là người chủ chốt trong việc chỉ đạo cuộc chiến tranh này và là người đã tạo nên chiến thắng của quân cộng sản vào năm 1975.
Tuy nhiên, khi nghiên cứu các tài liệu từ Việt Nam, Giáo sư Nguyễn Quang Ngọc cho rằng không hề có tranh cãi giữa Võ Nguyên Giáp và các thành viên Bộ Chính trị trong giai đoạn chiến tranh Việt Nam. Các tài liệu cho thấy không có sự phân chia hay đối lập giữa các phái trong nội bộ Bộ Chính trị như một số sử gia phương Tây đã đưa ra. Tướng Giáp không hề thuộc phái "chủ hòa", như những đồn đoán.
Theo quy định của Đảng, Tổng Bí thư Đảng Lao động (Lê Duẩn) sẽ kiêm luôn chức Bí thư Quân ủy Trung ương, nắm quyền chỉ đạo quân sự tối cao. Bộ trưởng Quốc phòng (Võ Nguyên Giáp) chỉ có thể giữ chức Phó Bí thư. Điều này có nghĩa là Lê Duẩn hoàn toàn có thể yêu cầu Võ Nguyên Giáp trao lại chức vụ Bí thư Quân ủy Trung ương cho mình. Tuy nhiên, Lê Duẩn đã không yêu cầu điều này và vẫn ủng hộ Võ Nguyên Giáp tiếp tục giữ chức vụ Bí thư Quân ủy Trung ương trong suốt 20 năm chiến tranh. Điều này cho thấy giữa hai người có sự tin tưởng lẫn nhau và không hề có sự chia rẽ hay mâu thuẫn.
Từ 1954 đến 1964
Từ năm 1954 đến 1956, Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa chủ trương đấu tranh hòa bình, yêu cầu chế độ Việt Nam Cộng hòa thực hiện Hiệp định Genève, nhằm hướng tới một Việt Nam thống nhất, không chia rẽ về tình cảm và chính trị. Tuy nhiên, Ngô Đình Diệm đã bác bỏ thẳng thừng đề nghị này và đẩy mạnh chính sách "tố Cộng, diệt Cộng".
Từ năm 1957 đến 1958, Đảng Lao động đã tổ chức nhiều cuộc họp để bàn về cách mạng miền Nam, nhưng các chủ trương và biện pháp đấu tranh vẫn chưa có sự thay đổi, khiến phong trào cách mạng tiếp tục bị đàn áp và chịu tổn thất nặng nề.
Vào tháng 1 năm 1959, khi hy vọng về việc thi hành Hiệp định Genève đã không còn, trong cuộc họp Ban Chấp hành Trung ương Đảng (mở rộng) lần thứ 15, Võ Nguyên Giáp đã hỗ trợ Bộ Chính trị và các cán bộ Việt Minh mới từ miền Nam ra, do Lê Duẩn đứng đầu, ban hành Nghị quyết 15 của Bộ Chính trị. Nghị quyết này khẳng định việc giải phóng miền Nam phải thực hiện bằng đấu tranh vũ trang, đồng thời cho phép các cán bộ kháng chiến còn lại ở miền Nam được tổ chức hoạt động vũ trang.
Vào năm 1959, được sự đồng ý của Bộ Chính trị, Võ Nguyên Giáp đã quyết định thành lập Đoàn 559 để mở đường mòn dọc theo dãy Trường Sơn nhằm tiếp ứng phong trào cách mạng miền Nam. Nhờ vào việc mở đường Trường Sơn, phong trào cách mạng và các hoạt động du kích tại miền Nam đã phát triển mạnh mẽ. Chỉ trong 4 năm, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã thành lập được một số đơn vị cấp trung đoàn.
Vào năm 1964, được sự đồng ý của Bộ Chính trị, Võ Nguyên Giáp đã bí mật cử Nguyễn Chí Thanh và Lê Trọng Tấn vào chiến trường Đông Nam Bộ để chỉ huy quân giải phóng miền Nam, thực hiện các trận đánh lớn tại Bàu Bàng, Dầu Tiếng, Đồng Xoài, tạo ra sự chuyển biến trên chiến trường và thành lập các sư đoàn nổi tiếng như Sư đoàn 1, 2, 3, 5, 7, và 9. Trong đó, Sư đoàn 1 trấn giữ Tây Nguyên, Sư đoàn 2 bảo vệ Quảng Nam và Quảng Ngãi, Sư đoàn 3 Sao Vàng trấn giữ Bình Định, Trung đoàn 10 bảo vệ Phú Yên, Trung đoàn 20 bảo vệ Khánh Hòa, Sư đoàn 5 bảo vệ khu vực Sài Gòn - Gia Định, Sư đoàn 7 cơ động chiến đấu khắp Quân khu 7, bao gồm các tỉnh Lâm Đồng, Ninh Thuận, Đồng Nai, Tây Ninh, Bình Thuận, Bình Phước, và Sư đoàn 9 di chuyển chiến đấu khắp Tây Ninh và Quân khu 9.
Từ 1965 đến 1972
Từ năm 1965, Hoàng Minh Thảo, học trò của Võ Nguyên Giáp tại trường Thăng Long, được cử vào Mặt trận Tây Nguyên, lần lượt giữ các chức vụ Phó Tư lệnh và Tư lệnh Mặt trận B3, thay Chu Huy Mân, người được giao nhiệm vụ chỉ huy Mặt trận Duyên hải Nam Trung Bộ cho đến khi chiến tranh kết thúc.
Cũng trong năm 1965, quân đội Hoa Kỳ bắt đầu triển khai chiến lược chiến tranh cục bộ. Đến cuối năm 1967, quân viễn chinh Mỹ đã tăng cường lên hơn 500.000 quân, cùng hàng ngàn máy bay, trực thăng và xe thiết giáp. Để đối phó với Mỹ, Võ Nguyên Giáp vẫn kiên trì với chiến lược chiến tranh nhân dân, theo tinh thần "trường kỳ kháng chiến" như trong Chiến tranh Đông Dương trước đây. Kết quả là hai cuộc tiến công mùa khô của Mỹ vào năm 1965-1966 và 1966-1967 đã thất bại. Mỹ không thể tiêu diệt quân Giải phóng và bình định miền Nam Việt Nam trong 18 tháng như kế hoạch ban đầu, và quân Mỹ bắt đầu sa lầy vào một cuộc chiến kéo dài, hao tổn và không có dấu hiệu kết thúc. Ký giả James Fox nhận xét rằng tướng Giáp đã thực hiện một chiến lược không khác biệt quá nhiều so với thời kỳ chống Pháp, nhưng lại vô cùng hiệu quả, khiến quân Mỹ học được rất ít từ người Pháp.
Năm 1968, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương tại Hà Nội đã phát động Tổng Tấn công và Nổi dậy Tết Mậu Thân. Mặc dù một số nguồn tin từ nước ngoài cho rằng Võ Nguyên Giáp không tán thành chiến lược tổng tấn công trên toàn chiến trường miền Nam, các tài liệu lịch sử cho thấy ông đã trực tiếp tham gia vào việc lập kế hoạch và chỉ đạo chiến dịch này. Trong một chuyến công tác chữa bệnh ở Hungary, Võ Nguyên Giáp đã dừng lại ở Bắc Kinh để xin chỉ thị của Hồ Chí Minh về chiến dịch Mậu Thân. Cả hai cùng đợi đài phát thanh thông báo về việc bắt đầu chiến dịch vào đêm giao thừa (31 tháng 1 năm 1968). Sau khi nghe tin chiến dịch đã diễn ra đúng thời gian dự kiến, ông trở về vào đầu tháng 2 năm 1968.
Khi trở về, Võ Nguyên Giáp, trên cương vị Tổng Tư lệnh Quân đội và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, đã chỉ đạo chiến dịch Tết Mậu Thân cùng với Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh. Cuộc tấn công Tết Mậu Thân đã khiến quân đội Hoa Kỳ bất ngờ và phải chịu nhiều tổn thất, đồng thời thúc đẩy phong trào phản chiến ở Mỹ và trên toàn thế giới. Tuy nhiên, chiến dịch cũng phải đối mặt với những tổn thất lớn và nhiều vấn đề cần rút kinh nghiệm về chiến thuật.
Vào năm 1990, trong một cuộc trò chuyện với nhà sử học Stanley Karnow, Võ Nguyên Giáp chia sẻ về mục tiêu chiến lược của chiến dịch Mậu Thân: "Chúng tôi muốn chứng minh cho người Mỹ thấy rằng chúng tôi không hề kiệt sức, chúng tôi có thể tấn công kho vũ khí, thông tin liên lạc, các đơn vị tinh nhuệ và thậm chí cả trụ sở, đầu não cuộc chiến của họ." Trong một cuộc phỏng vấn vào năm 1994, ông cho biết rằng lực lượng Mỹ ở Khe Sanh quá mạnh, với hỏa lực không quân vượt trội so với Pháp hàng chục lần, khiến việc tiêu diệt cứ điểm Khe Sanh, giống như trận Điện Biên Phủ, là không thể. Mục tiêu thực tế của Việt Nam là bao vây, tiến hành các cuộc tập kích nhỏ nhưng liên tục, nhằm gây thương vong lớn cho quân Mỹ và dần suy yếu ý chí chiến đấu của họ, cuối cùng buộc họ phải rút lui.
Võ Nguyên Giáp tiếp tục giữ các vị trí lãnh đạo trong Bộ Chính trị và Quân đội Nhân dân Việt Nam cho đến khi chiến tranh kết thúc vào năm 1975, và ông đã đóng vai trò quan trọng trong việc lên kế hoạch và chỉ đạo cuộc tấn công quyết định vào tháng 4 năm 1975, dẫn đến chiến thắng cuối cùng.
Từ 1972 đến 1975
Cuốn hồi ký Tổng hành dinh trong Mùa xuân đại thắng của Võ Nguyên Giáp, xuất bản lần đầu vào năm 2001, ghi lại những hoạt động của ông trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ từ năm 1972 đến 1975.
Vào năm 1972, sau chiến thắng lớn trong Chiến dịch Đường 9 Nam Lào, với sự bổ sung liên tục binh lực, Võ Nguyên Giáp đã chủ trương mở rộng chiến quả bằng một kế hoạch quân sự tại Tây Nguyên, nơi có khả năng triển khai lực lượng lớn và tạo ra khó khăn lớn hơn cho quân đội Sài Gòn. Tuy nhiên, kế hoạch này bị Quân ủy Trung ương bác bỏ vì thông tin từ Tổng cục Tình báo 2 cho biết quân Mỹ và quân đội Sài Gòn đã sớm biết và chuẩn bị tại Tây Nguyên. Do vị trí gần, mặt trận Trị-Thiên dễ dàng bổ sung quân số và đạn dược hơn, với hai mục tiêu quan trọng là Huế và Đà Nẵng.
Một phương án mới đã được đề xuất. Quân Giải phóng sẽ chia quân mở 3 chiến dịch tại Trị-Thiên, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Sau 2 tháng, với những thắng lợi lớn tại Chiến dịch Trị Thiên và quân Giải phóng đã áp sát Huế, các lực lượng bổ sung được tiếp tục đưa vào, trong khi mặt trận Tây Nguyên phải ngừng tiến công do thiếu nhiên liệu và đạn dược dự trữ. Võ Nguyên Giáp đề xuất vòng qua phía tây Huế, chia lực lượng và hỏa lực tấn công vào Vùng Chiến thuật I. Tuy nhiên, các đơn vị công binh mở đường gặp khó khăn do thiếu phương tiện, không thể phục vụ kịp mục tiêu chiến dịch. 6 sư đoàn tham gia chiến dịch Trị Thiên, bao gồm các sư đoàn 312, 308, 324, 325, 320, 341, đã hành quân trực diện từ phía Bắc xuống Vùng Chiến thuật I, nơi có quân đoàn I và lực lượng tổng trù bị của quân đội Sài Gòn, bao gồm các Lữ đoàn Biệt động quân, Sư đoàn Dù và Sư đoàn Thủy quân Lục chiến, được sự hỗ trợ tối đa từ không quân và Hải quân Mỹ.
Vào cuối năm 1972, Võ Nguyên Giáp tham gia chỉ huy chiến dịch 12 ngày đêm chống lại cuộc ném bom miền Bắc bằng B-52 của không quân Mỹ. Vào cuối tháng 11 năm 1972, phương án tác chiến đã được Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng và Bộ Tổng tham mưu thông qua, sau đó được Đại tướng Võ Nguyên Giáp phê chuẩn. Thất bại trong chiến dịch này buộc Mỹ phải chấp nhận ký Hiệp định Paris với những điều khoản mà trước đó Mỹ đã từ chối. Đêm 26 tháng 12 năm 1972, 8 máy bay Mỹ bị quân và dân miền Bắc bắn rơi, trong đó có 5 chiếc rơi tại Hà Nội. Từ sở chỉ huy tối cao, Võ Nguyên Giáp đã biểu dương các đơn vị lập công và ra lời kêu gọi: "Kẻ địch thua đau và nhất định sẽ bị thất bại hoàn toàn. Nhưng, chúng vẫn ngoan cố kéo dài cuộc tập kích. Các đơn vị hãy bắn rơi nhiều B-52 nữa, hãy giáng cho quân Mỹ một đòn 'Điện Biên Phủ' ngay trên bầu trời Hà Nội, Thủ đô thân yêu của chúng ta." Từ đó, chiến thắng này được gọi là "Chiến thắng Điện Biên Phủ trên không".
Vào năm 1974, để nắm bắt tình hình thực tế chiến trường và đưa ra quyết sách đúng đắn, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng Tư lệnh Đoàn 559 Đồng Sĩ Nguyên và chính ủy Đặng Tính đã vượt hàng trăm cây số thăm bộ đội Trường Sơn trên đường mòn Hồ Chí Minh, kiểm tra sự chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy dự kiến vào mùa Xuân 1975.
Cuối năm 1974, trong "Kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà", các ý kiến của Lê Duẩn, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp chỉ rõ: "Mặc dù các năm 1975 và 1976 đều quan trọng, nhưng năm 1975 là năm bản lề tạo điều kiện quyết định để năm 1976 đạt mục tiêu cuối cùng. Nếu thời cơ đến vào năm 1975, lập tức tiến hành tổng tấn công, giải phóng hoàn toàn miền Nam trong năm 1975."
Đến năm 1975, Võ Nguyên Giáp đã đồng ý với đề xuất của Trung tướng Hoàng Minh Thảo về việc chọn Nam Tây Nguyên làm hướng tấn công chiến lược, xin ý kiến Bộ Chính trị và cử Đại tướng Văn Tiến Dũng vào Nam chỉ đạo đòn tấn công "điểm huyệt" vào hệ thống phòng ngự của quân đội Sài Gòn tại Buôn Mê Thuột. Chính ông, nhân đà thắng trận Buôn Ma Thuột, đã ra lệnh cho Trung tướng Lê Trọng Tấn gấp rút giải phóng Đà Nẵng trong 3 ngày. Võ Nguyên Giáp cũng chính là người đề xuất và ra quyết định mở Chiến dịch Hồ Chí Minh, với Văn Tiến Dũng làm Tư lệnh và Lê Trọng Tấn, Lê Đức Anh, Trần Văn Trà làm Phó Tư lệnh, chỉ huy 5 cánh quân gồm 20 sư đoàn đồng loạt tiến vào giải phóng Sài Gòn. Mệnh lệnh nổi tiếng nhất của ông trong chiến dịch Hồ Chí Minh là "Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa, tranh thủ từng phút, từng giờ, xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam, quyết chiến và toàn thắng".
Trong suốt thời gian chiến tranh, Mỹ và Việt Nam Cộng hòa đã nhiều lần phát tán thông tin nhằm làm suy yếu tinh thần chiến đấu của đối phương, đặc biệt là liên quan đến Võ Nguyên Giáp. Các tin đồn thường xuyên xuất hiện trên báo chí, với những thông tin như "đảo chính ở miền Bắc", "tướng Giáp bị ám sát hoặc bị bắt giam"... Đặc biệt, trong chiến dịch Linebacker II, vào ngày 24 tháng 12 năm 1972, tờ The Sunday Times (Mỹ) đã đăng một tin trên trang nhất, thông báo: "Tướng Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Quốc phòng Bắc Việt, đã thiệt mạng trong một vụ nổ hôm qua khi ông đang thị sát những tổn thất sau các đợt ném bom tại Hải Phòng. Theo nguồn tin tình báo Nam Việt Nam, một quả 'mìn nổ chậm' đã phát nổ khi Tướng Giáp đang kiểm tra kho quân sự Trần Hưng Đạo tại thành phố cảng. Không có thông tin thêm về vụ việc..." Tuy nhiên, chỉ vài ngày sau, thông tin này đã được chứng minh là hoàn toàn bịa đặt, và Võ Nguyên Giáp vẫn sống khỏe mạnh cho đến nhiều năm sau khi chiến tranh kết thúc.
Chiến tranh Đông Dương lần 3
Từ tháng 7 năm 1960 đến tháng 1 năm 1963, Võ Nguyên Giáp đồng thời đảm nhận chức vụ Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Nhà nước. Đến năm 1978, ông rời khỏi chức vụ Bí thư Quân ủy Trung ương, và Lê Duẩn thay thế ông làm Bí thư, trong khi Văn Tiến Dũng đảm nhận vai trò Phó Bí thư Quân ủy Trung ương.
Sau khi đất nước thống nhất vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, Việt Nam phải đối mặt với tình trạng quân Khmer Đỏ xâm nhập từ biên giới Tây Nam và gây ra xung đột kéo dài. Khmer Đỏ nhận sự hậu thuẫn từ Trung Quốc và sau này là Thái Lan, dẫn đến các cuộc xung đột biên giới giữa Việt Nam và các quốc gia này từ năm 1975 đến 1990, với đỉnh điểm là cuộc Chiến tranh biên giới Việt-Trung vào năm 1979. Trong thời gian này, Võ Nguyên Giáp giữ chức Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Sau khi chiến tranh biên giới phía Bắc kết thúc, không có thay đổi đáng kể về lãnh thổ giữa Việt Nam và Trung Quốc.
Giai đoạn làm Phó Thủ tướng phụ trách các lĩnh vực dân sự
Ngày 7 tháng 2 năm 1980, Võ Nguyên Giáp thôi giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng nhưng vẫn tiếp tục là Ủy viên Bộ Chính trị và Phó Thủ tướng phụ trách Khoa học - Kỹ thuật. Đại tướng Văn Tiến Dũng thay thế ông làm Bộ trưởng Quốc phòng.
Vào cuối thập niên 1970, Việt Nam đối mặt với nguy cơ bùng nổ dân số. Để kiểm soát mức sinh, năm 1984, Hội đồng Bộ trưởng thành lập Ủy ban quốc gia dân số và sinh đẻ có kế hoạch, với Võ Nguyên Giáp làm Chủ tịch. Trong bối cảnh văn hóa thời đó, việc đàn ông tham gia công tác này bị coi là "mất thể diện", dẫn đến những đồn thổi không có căn cứ. Tuy nhiên, các lãnh đạo khác, bao gồm Thủ tướng Phạm Văn Đồng và Võ Văn Kiệt, cũng từng phụ trách công tác này, chứng tỏ tầm quan trọng của nó.
Võ Nguyên Giáp luôn coi việc thực hiện nhiệm vụ là trách nhiệm của Đảng viên. Ông chia sẻ: "Tôi đã cống hiến tự nguyện, đã thanh thản trong mọi thử thách, và tôi sống vui, sống lâu...".
Nghỉ hưu đến khi qua đời

Nghỉ hưu
Năm 1991, Võ Nguyên Giáp thôi giữ chức Ủy viên Trung ương và Phó Thủ tướng, chính thức nghỉ hưu ở tuổi 80. Theo tiểu sử, ông vẫn giữ vị trí Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng cho đến tháng 12 năm 1986.
Trong những năm cuối đời, dù đã nghỉ hưu, ông vẫn tiếp tục quan tâm đến tình hình đất nước và thường xuyên đưa ra các bình luận, nhận xét trên báo chí. Ông đã viết bài yêu cầu kiểm tra và báo cáo về vụ PMU18 trong Đại hội Đảng Cộng sản lần thứ X, đồng thời khuyến khích các doanh nhân thúc đẩy xuất khẩu nông sản.
Vào ngày 1 tháng 11 năm 2007, ông gửi thư phản đối chủ trương xây dựng Nhà Quốc hội tại khu di tích 18 Hoàng Diệu. Ông cũng có một bài viết về thực trạng giáo dục và đề xuất 6 vấn đề "cơ bản và cấp bách" để cải cách hệ thống giáo dục và đào tạo của Việt Nam. Vào đầu năm 2009, ông đã viết ba bức thư gửi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, đề nghị xem xét lại Dự án khai thác bô xít ở Tây Nguyên, với lý do lo ngại về an ninh quốc gia và tác động môi trường.
Đại thọ 100 tuổi
Ngày 25 tháng 8 năm 2011, Võ Nguyên Giáp đã mừng thọ tròn 100 tuổi.
Nhân dịp này, khi ông bước sang tuổi 100 và kỷ niệm 71 năm tuổi Đảng, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã phát biểu: "Một vị đại tướng, người đã vào sinh ra tử, chiến đấu ở những chiến trường đầy thử thách, là học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nay đã sống trên 100 tuổi, điều này thật đáng mừng..."
Đại tướng Võ Nguyên Giáp thường xuyên được các chính khách quốc tế đến thăm tại tư dinh. Ông được coi là một biểu tượng sống và có ảnh hưởng sâu rộng đối với Việt Nam, là hình mẫu trong lòng mỗi người dân Việt.
Sau khi bước sang tuổi 100, sức khỏe của ông bắt đầu suy yếu. Vào ngày 22 tháng 5 năm 2011, Đài Truyền hình Việt Nam đã phát sóng hình ảnh ông thực hiện quyền công dân, bỏ phiếu trong cuộc bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, nhằm xóa bỏ những tin đồn về sức khỏe của ông từ các nguồn tin không chính thống.
Trong dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27 tháng 7 năm 2011, Truyền hình Quân đội nhân dân đã phát sóng cảnh Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Lê Hữu Đức thăm một số tướng lĩnh cao cấp đang điều trị tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, trong đó có Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Hình ảnh cho thấy sức khỏe của ông đã cải thiện rõ rệt.
Qua đời
Đại tướng Võ Nguyên Giáp qua đời vào lúc 18 giờ 9 phút, ngày 4 tháng 10 năm 2013, tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, Hà Nội, nơi ông đã thường xuyên điều trị từ năm 2009. Ông hưởng thọ 103 tuổi (theo tuổi âm lịch) và là tướng lĩnh Việt Nam sống thọ nhất trong lịch sử.

Văn phòng Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã thông báo tổ chức lễ tang của Đại tướng theo nghi thức Quốc tang vào hai ngày 12 và 13 tháng 10 năm 2013. Theo nguyện vọng của gia đình, ông được an táng tại quê hương Quảng Bình, tại khu vực Vũng Chùa - Đảo Yến, xã Quảng Đông, huyện Quảng Trạch, cách đèo Ngang khoảng 4 km. Nơi an nghỉ cuối cùng của ông đã được xây dựng thành một quần thể kiến trúc, trở thành một điểm đến cho người dân đến viếng thăm.
Vinh danh
Tên của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã được đặt cho nhiều con đường, phố và trường học trên khắp Việt Nam. Đặc biệt, từ ngày 12 tháng 8 năm 2014, trường Trung học phổ thông chuyên Quảng Bình đã chính thức đổi tên thành Trường Trung học phổ thông chuyên Võ Nguyên Giáp.
Vào ngày 25 tháng 8 năm 2014, nhân dịp kỷ niệm 104 năm ngày sinh của Đại tướng, Tỉnh ủy Thái Nguyên quyết định đổi tên Quảng trường 20/08 thành Quảng trường Võ Nguyên Giáp, với diện tích lên đến 21ha.
Ngày 7 tháng 2 năm 2015, tuyến đường cao tốc Nhật Tân - Nội Bài được đổi tên thành đường Võ Nguyên Giáp, là tuyến đường quan trọng kết nối trung tâm Hà Nội với Sân bay quốc tế Nội Bài.
Ngày 8 tháng 11 năm 2015, UBND tỉnh Trà Vinh tổ chức lễ công bố nghị quyết của HĐND tỉnh Trà Vinh, quyết định đặt tên Đại tướng cho tuyến đường hai chiều từ cửa ngõ vào trung tâm thành phố Trà Vinh.
Vào ngày 22 tháng 7 năm 2020, Hội đồng nhân dân thành phố Hải Phòng đã ban hành Nghị quyết số 01/2020/NQ-HĐND, theo đó, trục đường Hồ Sen - Cầu Rào 2 được đổi tên thành đường Võ Nguyên Giáp, và cầu Rào 2 cũng được mang tên ông.
Sáng ngày 12 tháng 7 năm 2023, Hội đồng nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã thông qua nghị quyết về việc đổi tên Xa lộ Hà Nội, đoạn từ cầu Sài Gòn đến ngã tư Thủ Đức, dài 7,79 km, thành đường Võ Nguyên Giáp, được đại biểu đồng thuận.